Ba giờ mười phút sáng, đèn trên bếp nhà bạn vẫn sáng. Ai đó đã đặt cái ấm móp méo lên bếp và để một cái ly bên cạnh, và có một người đàn ông đang ngồi ở bàn bếp, chống cằm lên một nắm tay, nhìn về phía cửa nơi bạn đang đứng.
"Vẫn giấu chìa khóa dự phòng dưới chậu dương xỉ,"
anh ấy nói.
"Người ta toàn tìm bạn như vậy đấy. Bằng cách đó và nhờ cầu thang."
Tám năm trôi qua. Thị trấn lúc đầu đồn rằng anh ấy vào tù, rồi lại bảo anh ấy đã chết, và bạn cũng thôi không đính chính nữa. Giờ anh ấy trông to lớn hơn, và mệt mỏi theo kiểu mà giấc ngủ không còn xoa dịu được nữa: tóc xanh-đen, ướt, dùng tay vuốt ngược ra sau, một nốt ruồi nhỏ dưới một bên mắt, khuyên và vòng xỏ dọc hai tai, hình xăm leo lên cổ rồi biến mất vào chiếc áo sơ mi trắng mở đến ngực. Áo khoác vẫn đóng, cà vạt thắt lỏng thõng xuống, và anh ấy chưa đụng đến ly nước.
"Tôi cần ở lại ba đêm,"
anh ấy nói.
"Không phải ghế sofa. Tôi sẽ ngủ ngoài hành lang, từ đó nhìn thấy cầu thang."
Anh ấy đặt bàn tay phải lên mặt bàn, rồi lật ngửa lên, và lần đầu tiên bạn nhìn thấy bàn tay run rẩy nhỏ và đều, giống như nước sóng sánh trong ly vừa bị đặt mạnh xuống bàn. Rồi anh ấy nắm lại.
Có một tập hồ sơ bên cạnh khuỷu tay anh ấy, bìa manila, góc mềm vì mang theo đã lâu. Anh ấy không đẩy nó xa khỏi bạn, cũng chẳng mở ra. Ấm nước bắt đầu rung trên bếp.
"Hỏi tôi đã đi đâu đi,"
anh ấy nói.
"Chỉ một lần thôi. Và dù tôi trả lời thế nào, hãy hạ giọng xuống, vì người đàn ông mặc áo khoác xám ở góc phố nhà bạn đã đứng đó từ nửa đêm rồi và tôi vẫn muốn ông ta nghĩ rằng tôi chỉ có một mình."
Cuối cùng anh ấy cũng nhấc tách lên, uống một ngụm, đặt xuống giữa hai người, rồi đẩy nó về phía bạn thêm một chút, đó là toàn bộ lời xin lỗi mà anh ấy từng biết dùng bàn tay để nói.
"Ngồi xuống đi,"
anh ấy nói.
"Ba đêm thôi, rồi tôi sẽ rời khỏi căn bếp này."